[dieuphap.com]

 


Bát Chánh Đạo

Con Đường Diệt Khổ
(The Noble Eightfold Path - The Way to the End of Suffering)
Bhikkhu Bodhi
Minh Hạnh & Nguyễn Văn Hoà dịchViệt


         

[Chương IV]

Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp, Chánh Mạng (Samma Vaca, Samma Kammanta, Samma Ajiva)

 


Ba yếu tố tiếp theo của Bát Chánh Đạo là- Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp, và Chánh Mạng - có thể được giải thích đi chung với nhau, như sự tập hợp tạo lên nhóm thứ nhất trong ba nhóm của Bát Chánh Đạo, là một nhóm của sự rèn luyện nâng cao giới đức (silakkhandha). Tuy nhiên những cơ bản quy định trong nhóm này là để ngăn trở những hành vi vô đạo đức và thúc đẩy các hành động tốt, mục đích cuối cùng của nhóm nhắm nhiều về tôn giáo hơn là về đạo đức. Những yếu tố này không được quy định chỉ là hướng dẫn để hành động, nhưng chủ yếu là hỗ trợ việc thanh lọc tâm. Như một biện pháp cần thiết để trở thành người tốt, đạo đức có sự công chính hoá trong giáo lý Phật Pháp và tầm quan trọng không thể được đánh giá thấp. Nhưng trong bối cảnh đặc biệt của Bát Chánh Đạo nguyên tắc đạo đức là một phần của sự tu tập Bát Chánh Đạo, cuối cùng thoát ra khỏi sự phiền não. Do đó đối với việc nâng cao giới đức trở thành một phần cần thiết của sự tu tập, nó phải được đưa ra dưới sự giám hộ của hai yếu tố đầu tiên, Chánh Kiến ​​và Chánh Tư Duy, và tiến xa hơn nữa để rèn luyện Định và Tuệ.

Mặc dù việc rèn luyện nâng cao giới đức được liệt kê vào nhóm đầu tiên giữa ba nhóm của sự tu tập, nó không nên được coi nhẹ. Nó là nền tảng cho toàn bộ con đường tu tập, và cần thiết cho sự thành công của các sự tu tập khác. Đức Phật Ngài thường xuyên kêu gọi các đệ tử của mình tuân thủ các quy định về kỷ luật, "nhìn thấy nguy hiểm trong các lỗi nhỏ." Một lần, khi một Tỳ Kheo đến gặp Đức Phật và xin Ngài thuyếp pháp vắn tắt, Đức Phật Ngài giảng cho vị Tỳ Kheo: "Vậy này Tỷ-kheo, Ông phải gột sạch hai pháp cơ bản về các thiện pháp. Và thế nào là hai pháp cơ bản về các thiện pháp? Chính là giới khéo thanh tịnh, và tri kiến chánh trực. Này Tỷ-kheo, khi nào Ông được giới khéo thanh tịnh và tri kiến chánh trực, này Tỷ-kheo, Ông hãy y cứ trên giới, an trú trên giới, tu tập bốn niệm xứ theo ba cách."(SN 47: 3).

Trong ngôn từ Pali chữ sila chúng tôi dịch là "giới hạnh," , xuất hiện trong các văn bản với nhiều nghĩa chồng chéo tất cả liên hệ với tư cách tốt. Trong một số trường hợp nó có nghĩa là hành động phù hợp với các nguyên tắc đạo đức, ở trường hợp khác tự chúng là nguyên tắc đạo đức, còn những trường hợp khác nữa những phẩm chất đạo đức được thể hiện của một nhân vật điều đó là kết quả của việc thực hiện sự rèn luyện nâng cao giới đức. Sila trong ý nghĩa của giới luật hay nguyên tắc đạo đức tiêu biểu cho khía cạnh của sự rèn luyện giới đạo đức, sila là tinh thần đức hạnh tươi sáng, và sila là cách cư xử biểu hiện của đức hạnh trong đời sống thực tế. Thông thường sila được định nghĩa là sự tiết chế những hành vi không lành mạnh của thân và khẩu. Định nghĩa này, với sự nhấn mạnh của nó vào hành động bên ngoài, biểu lộ ở bề mặt. Những giải thích khác, dù bằng cách nào, tạo nên sự thiếu xót và biểu lộ rằng có nhiều để trì giới hơn là rõ ràng ở cái nhìn đầu tiên. Ví dụ, trong Vi Diệu Pháp, sila tương đương với các yếu tố tinh thần của sự tiết chế (viratiyo) - Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp, và Chánh Mạng -- một phương trình mà làm cho nó rõ ràng rằng những gì đang thực sự được tu dưỡng thông qua việc tuân thủ các quy tắc đạo đức là tâm. Vì vậy trong việc rèn luyện nâng cao giới đức mang đến lợi ích chung của sự ngăn chặn các hành vi làm ô uế xã hội, nó tạo ra lợi lạc cá nhân là làm cho tâm được trong sáng, để ngăn chặn không bị những sự sai quấy điều khiển chúng ta phải theo .

Ngôn từ tiếng Anh "morality - đạo đức" và nó bắt nguồn từ một ý thức của bổn phận và sự kềm chế hoàn toàn không thuộc với quan niệm của Phật giáo về sila; Ý nghĩa đạo đức 'morality là của nền hữu thần đạo đức Tây Phương. Với Phật giáo chủ trương vô thần, cơ sở đạo đức của Phật giáo, không phải trên các khái niệm của sự vâng phục, nhưng mà hài hòa. Trong thực tế, những chú giải giải thích ý nghĩa sila bằng một từ khác, samadhana, có nghĩa là "sự hòa hợp" hoặc "sự phối hợp".

Sự trì hành của sila dẫn đến hòa hợp ở nhiều cấp độ - xã hội, tâm lý, nghiệp báo, và sự quán chiếu. Ở cấp độ xã hội yếu tố cơ bản của sila giúp đỡ để thiết lập quan hệ hài hoà giữa các cá nhân, kết hợp khối lượng các thành viên khác nhau thiết lập nên một xã hội với quyền lợi riêng của họ và mục tiêu gắng kết vào một trật tự xã hội trong đó có va chạm, nếu không hoàn toàn loại bỏ, ít nhất là giảm. Ở cấp độ tâm lý sila mang lại sự hài hòa cho tâm , bảo vệ tâm không bị chia trẻ gây ra bởi cảm giác tội lỗi và hối hận về tội lỗi. Ở cấp độ nghiệp báo việc trì giữ sila đảm bảo sự hài hòa với luật vũ trụ của nghiệp, do đó kết quả thuận lợi trong quá trình chuyển động trong tương lai thông qua các vòng tái sanh và sự chết. Và ở cấp thứ tư, sự quán chiếu, sila giúp thanh lọc tâm trở thành trọn vẹn, một cách sâu sắc hơn và triệt để hơn, bởi sự phát triển phương pháp thanh thản và cái nhìn sâu sắc.

Một khi mà định nghĩa tóm tắt, các yếu tố của sự rèn luyện nâng cao giới đức thường được diễn đạt tiêu cực, trong sự quan hệ của tiết chế. Nhưng có nhiều hơn để Sila hơn với việc hạn chế những gì là sai. Mỗi nguyên tắc đạo đức ghi vào trong giới luật, như chúng ta sẽ thấy, thực sự có hai khía cạnh, cả hai đều cần thiết cho việc đào tạo như là toàn bộ. Một là tiết chế điều bất thiện, điều kia thì hứa hẹn để cho điều thiện; Trước kia người ta dùng từ "hành động không nên làm" (varitta) và sau này thì dùng "hạnh kiểm thực hành" (caritta). Lúc bắt đầu của sự rèn luyện Đức Phật đã nhấn mạnh các khía cạnh của hành động không nên làm. Ngài đã làm như vậy, không phải chỉ tránh xa điều bất thiện là đủ, nhưng là để thiết lập các bước tu tập theo sự phối hợp đúng đắn. Những phương pháp này được đặt ra trong trật tự tự nhiên của chúng (logical hơn là thời gian) trong một câu kệ ngôn nổi tiếng của kinh Pháp Cú: "Không làm mọi điều ác, Huân tu các hạnh lành, Giữ tâm ý tịnh thanh -- đây huấn từ của chư Phật" ( v. 183). Hai phương pháp khác - tu tập điều lành và thanh tịnh tâm ý - cũng nhận được thích đáng của chúng, nhưng để đảm bảo thành công của chúng, phải quyết tâm để tránh những việc bất thiện là một điều cần thiết. Nếu không có một quyết tâm nỗ lực để phát triển các phẩm chất lành thì chắc chắn sẽ đi sai lạc và phương pháp tu tập bị chặn lại không tăng trưởng.

Việc rèn luyện nâng cao giới đức ảnh hưởng hai con đường chủ yếu của hành động bên ngoài, lời nói và hành động của thân, cũng là một phần khác của sự quan tâm quan trọng - cách kiếm sống của một người. Vì vậy việc tu tập bao gồm ba yếu tố: Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp, và Chánh Mạng. Bây giờ chúng ta sẽ xem xét riêng lẻ từng phần, theo thứ tự mà chúng được định đặt trong cách trình bày thông thường của con đường tu tập..

Chánh Ngữ (samma vaca)

Đức Phật chia Chánh Ngữ làm bốn thành phần: không nói dối, không nói chia rẽ, không nói độc ác, và không nói nhảm nhí. Lời nói không hiển nhiên gây ảnh hưởng ngay lập tức như những hành động của thân, tầm quan trọng và tiềm năng của nó có thể dễ dàng bỏ qua. Nhưng một chút suy nghĩ nghiêm túc sẽ thấy rằng lời nói và ảnh hưởng của nó, chữ viết , có thể có những hậu quả to lớn có lợi hay gây hại. Trong thực tế, khi mà chúng sanh như loài thú đời sống ở trình độ không có lời nói dùng hành động mạnh bạo là điều quan trọng để chiến thắng, đối với con người dùng lời nói để tạo cho người ta kính nể mình . Lời nói có thể làm tan nát cuộc sống, tạo ra kẻ thù, và bắt đầu cuộc chiến tranh, hoặc lời nói có thể tạo nên sự khôn ngoan, chữa lành những chia rẽ, và tạo ra hòa bình. Điều này luôn luôn là như vậy, Bây giờ trong thời hiện đại tiềm năng tích cực và tiêu cực của ngôn ngữ đã truyền đi rất nhanh với sự gia tăng lớn mạnh trong các phương tiện, tốc độ và phạm vi của truyền thông.Năng lực diễn đạt lời nói, bằng khẩu và viết, thường được coi như là phân biệt trình độ cấp bậc của loài người. Dựa vào điều này chúng ta có thể đánh giá cao sự cần thiết làm cho khả năng này trở thành phương tiện để con người có giá trị cao hơn là dấu hiệu làm cho xuống cấp của con người như thường xuyên xảy ra.

(1)Không nói dối (musavada veramani)

Ở đây, một người không nói dối và tự kiềm chế nó. Người ấy nói sự thật, tất cả là nói sự thật, đáng tin cậy, xứng đáng với sự tin tưởng, không phải là một kẻ lừa dối người. tại một buổi hội họp, hoặc giữa đám đông người, hoặc ở giữa những người thân của ông ta, hoặc trong một xã hội, hoặc tại triều đình của nhà vua, và kêu gọi và hỏi mọi người làm chứng ông ta nói những gì ông ta biết, ông trả lời, nếu ông ta không biết gì, ông nói: " tôi không biết gì ", và nếu ông ấy biết, ông ta trả lời:" tôi biết "; nếu ông ta không nhìn thấy gì, ông ta trả lời: "Tôi không thấy gì cả," và nếu ông ta đã nhìn thấy, ông trả lời: ". Tôi đã thấy" Vì thế, ông ta không bao giờ cố ý nói một lời nói dối, hoặc là vì lợi ích lợi thế của riêng mình, hoặc vì lợi ích lợi thế của người khác, hoặc vì lợi ích của bất kỳ lợi thế nào.[21].

Tuyên bố này của đức Phật tiết lộ cả những mặt tiêu cực và những mặt tích cực đến giới luật. Mặt tiêu cực là không nói dối, mặt tích cực là nói sự thật. Các yếu tố mang tính quyết định đằng sau sự vi phạm là ý định lừa dối. Các yếu tố mang tính quyết định ẩn ý trong ý nghĩ muốn lừa dối. Nếu một người nói điều gì đó sai mà người đó tin đó là sự thật, như vậy không có vi phạm giới luật vì không có chủ tâm dối gạt Mặc dù có ý nghĩ dối trá nằm chung trong tất cả các trường hợp nói dối, những lời nói dối có thể xuất hiện trong vỏ bọc khác nhau tùy thuộc vào nguồn gốc động cơ thúc đẩy, cho dù tham lam, sân hận, si mê hoặc.Tham là động cơ đứng đầu dẫn đến lời nói dối nhằm mục đích đạt được lợi ích cá nhân cho bản thân hoặc cho những người thân cuủ mình - sự giàu có, vị trí, sự tôn trọng, hay sự ngưỡng mộ. Với lòng căm thù là động cơ, nói dối có dạng của những lời nói dối độc hại, những lời nói dối có ý định làm tổn thương và thiệt hại khác. Khi vô minh là động lực chủ yếu của sự dối trá, thi kết quả là ít nguy hại : lời nói dối vô lý, những lời nói dối có xu hướng ép buộc, thích thổi phồng, nói dối với ý vui đùa.

Đức Phật chỉ trích việc nói dối dựa vào nhiều lý do. Đối với một điều, nói dối là gây rối sự đoàn kết của xã hội. Mọi người có thể sống chung với nhau trong một xã hội chỉ khi nào ở đó có một bầu không khí tin cậy lẫn nhau, nơi mà họ có lý do để tin rằng những người khác sẽ nói sự thật; do sự triệt phá nền tảng chân thật lôi kéo hàng loạt nghi ngờ, nói dối tràn lan trở thành cơ nguy báo hiệu sự sụp đổ từ sự đoàn kết xã hội đưa đến sự hỗn loạn. Ngoài ra nói dối có những hậu quả khác của tính chất cá nhân sâu sắc không kém tai hại. Bởi bản chất nói dối của họ có xu hướng nói dối thêm. Nói dối một lần và cảm thấy lời nói của chúng ta đang bị nghi ngờ, chúng ta cảm thấy cần phải nói dối một lần nữa để bảo vệ uy tín của chúng ta, để vẽ một bức tranh thích hợp với sự việc. Vì vậy, quá trình này sẽ tự nó lặp lại: những điều dối trá phóng đại, nhân lên, và nối tiếp nhau cho đến khi chúng nhốt chúng ta vào một cái lồng của sự giả dối mà từ đó nó là su khó khăn để thoát khỏi.Sự dối trá là như vậy, một mô hình thu nhỏ cho toàn bộ quá trình của sự ảo tưởng chủ quan. Trong mỗi trường hợp sự tự tin vào khả năng của chính mình, bị hút bởi sự lừa dối của mình, cuối cùng la nạn nhân của chúng.

Điều đó có lẽ có ẩn ý đằng sau những lời giáo huấn của Đức Phật đã giảng cho người con của Ngài, vị Sadi trẻ Rahula, ngay sau khi Rahula thọ giới.
Một ngày. Đức Phật đến với Rahula, chỉ vào một chậu nước với một chút nước trong đó, và hỏi:
"La Hầu La, con có thấy một ít nước còn lại trong chậu nước không?"
Tôn Giả La Hầu La trả lời: "Thưa vâng, Bạch Đức Thế Tôn."
"Cũng ít vậy, này Rahula, là Sa-môn hạnh của những người nào biết mà nói láo, không có tàm quý."
Sau đó, Đức Phật đã đổ bỏ phần nước,và đặt chậu xuống, và nói:
". Này Rahula, Ông có thấy chút ít nước còn lại ấy bị đổ đi. Cũng đổ đi vậy, này Rahula, là Sa-môn hạnh của những người nào biết mà nói láo, không có tàm quý"
Rồi Thế Tôn lật úp chậu nước ấy và bảo Tôn giả Rahula.
-- Này Rahula, Ông có thấy chậu nước bị lật úp ấy không?:
-- Thưa vâng, bạch Thế Tôn
--Cũng lật úp vậy, này Rahula, là Sa-môn hạnh của những người nào biết mà nói láo, không có tàm quý.
Rồi Thế Tôn lật ngửa trở lại chậu nước ấy và bảo Tôn giả Rahula:
-- Này Rahula, Ông có thấy chậu nước này trống không không?
-- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
-- Cũng trống không vậy, này Rahula, là Sa-môn hạnh của những người nào biết mà nói láo, không có tàm quý.
Cũng vậy, này Rahula, đối với ai biết mà nói láo, không có tàm quý, thời Ta nói rằng người ấy không có việc ác gì mà không làm. Do vậy, này Rahula, "Ta quyết không nói láo, dầu nói để mà chơi", này Rahula, Ông phải học tập như vậy.
Do đó, Đức Phật đã kết luận, người ta không nên nói dối có chủ ý thậm chí đùa. MN 61

Điều đó nói rằng trong quá trình tu tập lâu dài của mình cho sự Giác Ngộ qua nhiều kiếp, Đức Bồ tát có thể phá vỡ tất cả các giới luật phẩm hạnh trừ các cam kết nói lên sự thật. Biểu lộ rằng điều cam kết để nói thật có ý nghĩa vượt phạm vi của đạo đức và thậm chí thanh lọc tâm, đưa chúng ta đến các lĩnh vực kiến ​​thức và sự tồn tại. Lời nói chân thật, trong lãnh vực truyền đạt tư tưởng giữa các cá nhân, tạo ra một đường lối song hành với trí tuệ trong giới hạn tìm hiểu riêng tư. Hai là sự tương ứng phương thức bên ngoài và bên trong của cùng sự cam kết với những gì là có thật. Trí tuệ bao gồm trong việc hành xử chân thật, và sự chân thật (sacca) không chỉ là mục tiêu bằng lời nói nhưng bản chất của sự vật chúng là như vậy. Để nhận ra chân lý toàn bộ con người của chúng ta phải sống phù hợp với cuộc sống trung thực với sự việc đúng như nghĩa của chúng , là đòi hỏi trong việc đối thoại với những người khác chúng ta phải tôn trọng những sự việc đúng như sự thật bằng cách nói lên sự thật. Lời nói trung thực thiết lập một sự tương ứng giữa bên trong tâm của chúng ta và bản chất thực sự của hiện tượng, cho phép trí tuệ phát sanh và hiểu được bản chất thực sự của chúng. Nhu vậy, nguyên tắc đạo đức, sự thành tâm với lời nói trung thực là một vấn đề xóa bỏ lòng tham của chúng ta trên thực tế chứ không phải là ảo tưởng, sự thật tạo nên sự khôn ngoan chứ không phải là những tưởng tượng dệt bởi lòng mong muốn.

(2) Không nói lời chia rẽ (pisunaya vacaya veramani)

Người ấy không nói lời chia rẽ và tự kiềm chế nó. Những gì người ấy đã nghe nói ở chỗ này người ấy không lặp lại ở nơi khác, để gây ra sự chia rẽ; và những gì người ấy đã nghe nói ở chỗ kia người ấy không lặp lại ở đây, để gây ra sự chia rẽ ở đây. Vì thế, người ấy sống hòa hợp hợp những kẻ chia rẽ; và tăng trưởng những người hòa hiệp, người ấy nói những lời đưa đến hòa hợp. Sự hòa hợp làm người ấy vui, người ầy vui sướng và hân hoan trong sự hòa hợp; và sự hòa hợp mà người ấy vui bởi lời nói của mình.[23] ;

lời nói chia rẽ là lời nói nhằm tạo ra sự thù hận và chia rẽ, làm cho giận ghét người này với người kia hoặc một nhóm này với nhóm khác. Động cơ đằng sau lời nói chia rẽ nói chung là vì ác cảm, bực bội vì sự thành công hay đức tính của một đối thủ, ý định hại những người khác bằng cách nói lời chia rẽ. Động cơ khác có thể vì sự việc không hại gì: ý định độc ác gây tổn thương cho người khác, mong muốn cái ác để giành tình cảm cho bản thân, vui thích nhìn thấy bạn bè chia rẽ.

lời nói chia rẽ là một trong những vi phạm đạo đức nghiêm trọng nhất.Thực chất của sân làm cho các nghiệp bất thiện tăng trưởng, ngoài ra vì hành động thường xảy ra sau khi suy nghĩ nên ảnh hưởng tiêu cực trở nên mạnh mẽ hơn bởi vì hành động có chủ tâm thêm vào làm cho nó trở nên nghiêm trọng.Khi nói rằng chia rẽ là sai, hai sai lầm của sự dối trá và chia rẽ kết hợp tạo ra một nghiệp bất thiện vô cùng mạnh mẽ. Các bản văn kinh điển ghi lại một số trường hợp trong đó các lời vu khống thuộc thành phần vô minh dẫn đến sự tái sinh ngay trong đau khổ.

Như Đức Phật đã giảng, ngược lại với lời chia rẽ là lời nói nhằm thúc đẩy tình hữu nghĩ và hoà hợp. Điều đó lời nói bắt nguồn từ tâm của lòng từ và sự thông cảm. Nó nhận được sự tin tưởng và tình cảm của những người khác, những người cảm thấy họ có thể tâm sự mà không sợ rằng việc tiết lộ để sử dụng chống lại họ. Ngoài những lợi ích rõ ràng rằng lời nói đó mang lại trong cuộc sống hiện tại này, người ta nói rằng không nói lời chia rẽ có kết quả nghiệp báo của nó là đạt được những người bạn chung thành không bao giờ quay lưng chống lại mình bởi những lời chia rẽ của người khác.

(3) Không nói lời độc ác (pharusaya v acaya veramani).

Đoạn tận lời nói độc ác, từ bỏ lời nói độc ác,. Người ấy nói những lời nói nhu hòa, êm tai, dễ thương, thông cảm đến tâm, tao nhã, đẹp lòng nhiều người.[25]

Lời nói thô ác là lời nói trong sự tức giận, có ý định gây đau khổ cho người nghe. Lời nói như vậy có thể bao gồm trong nhiều hình thức khác nhau, trong đó chúng ta có thể đề cập đến ba loại. Một là lời nói ác có nội dung xấu: chửi mắng, mắng, hoặc quở trách một cách giận dữ với những lời cay đắng. Thứ hai là xúc phạm: làm tổn thương nhau bằng quy gán cho người ta một số xúc phạm làm giảm đi phẩm giá của người đó. Thứ ba là mỉa mai: nói chuyện với một ai đó trong một cách mà bề ngoài ca ngợi anh ta, nhưng với một giai điệu ẩn ý của cách nói với ý định mỉa mai trở nên rõ ràng và gây ra đau khổ.

Căn nguyên chính của lời nói thô ác là ác cảm, bao gồm các hình thức của sự tức giận. Từ đó các phiền não trong trường hợp này có xu hướng đẩy mạnh, thiếu suy tính, sự việc vi phạm ít nghiêm trọng hơn so với nói lời chia rẽ và hậu quả nghiệp báo thường ít nghiêm trọng.Tuy nhiên, lời nói thô ác là một hành động bất thiện kết quả khó chịu cho chính mình và những người khác, cả trong hiện tại và trong tương lai, vì vậy phải nên hạn chế. Phương pháp hóa giải lý tưởng là kiên nhẫn - học cách chịu trách nhiệm và sự phê phán từ những người khác, để cảm thông với những thiếu sót của họ, tôn trọng sự khác biệt trong quan điểm, phải chịu đựng sự sỉ nhục mà không cảm thấy mình bắt buộc phải trả đũa. Đức Phật kêu gọi kiên nhẫn ngay cả dưới điều kiện khó khăn nhất:.

Chư Tỷ-kheo, như những kẻ đạo tặc hạ liệt, dùng cưa hai lưỡi mà cưa tay, cưa chân; dầu vậy, nếu một ai ở đây khởi ý nhiễm loạn, người ấy do vậy không phải là người thực hành giáo pháp của Ta. Ở đây, chư Tỷ-kheo các Ông phải học tập như sau: "Chúng ta sẽ giữ tâm của chúng ta không biến nhiễm; chúng ta sẽ không thốt ra những lời ác ngữ; chúng ta sẽ sống với lòng lân mẫn, với tâm từ bi, với nội tâm không sân hận. Chúng ta sẽ sống bao phủ người này với tâm câu hữu với từ. Và với người này là đối tượng, ta sống biến mãn cùng khắp thế giới với tâm câu hữu với từ, quảng đại, vô biên, không hận, không sân"[26].

(4) Không nói nhảm nhí (samphappalapa veramani).

Người ấy đoạn tận lời nói phù phiếm, nói đúng thời, nói chân thật, nói có ý nghĩa, nói Pháp, nói Luật, nói những đáng được gìn giữ. Vì nói hợp thời, nên lời nói thuận lý, có mạch lạc, hệ thống, lợi ích.[27]

Ngồi lê đôi mách, là nói chuyện vô nghĩa, lời nói không có mục đích hoặc chiều sâu. Đó là lời nói chia sẻ không có giá trị, nhưng chỉ dấy lên những phiền não trong tâm trí của chính mình và cho người khác. Đức Phật khuyên nói chuyện mhảm nhí nên được kiềm chế và thu gọn lời nói càng nhiều càng tốt cho những vấn đề có tầm quan trọng chân thật. Trong trường hợp của một tu sĩ, các chủ đề tiêu biểu của sự chuyện trò trao đổi giữa hai người chính đáng được can nhac, lời nói của vi tu si nên được chọn lọc và liên quan chủ yếu với Phật pháp. Người cư sĩ có nhu cầu nhiều hơn cho cuộc nói chuyện trìu mến nhẹ nhàng với bạn bè và gia đình, nói chuyện lịch sự với những người quen biết, và nói chuyện trong sự giao tiếp với bạn bè nơi làm việc của họ. Nhưng ngay cả lúc đó họ phải chú ý không đưa cuộc chuyện trò đi lạc vào hoang tưởng, làm tâm bị xao xuyến, luôn mong muốn cho một cái gì đó ngọt ngào hay cay để ăn, có thể tìm thấy những cơ hội để chìu theo những khuynh hướng bất thiện.

Theo lời giải thích cổ xưa về không ngồi lê đôi mách, chỉ đề cập đến việc tránh tham gia những cuộc nói chuyện về chính mình. Nhưng ngày hôm nay nó có thể đánh giá yếu tố này một sự phê bình khác , được thực hiện bắt buộc bằng những phát triển nhất định đặc thù của thời đại chúng ta, điều chưa biết trong những ngày của thời Đức Phật và các nhà bình luận thời cổ đại. Đó là tránh xa sự ngồi lê đôi mách luôn luôn tấn công chúng ta qua các phương tiện thông tin truyền thông được tạo ra bởi kỹ nghệ thông tin hiện đại. Một phương diện đáng kinh ngạc của các máy móc- truyền hình, đài phát thanh, báo chí, tạp chí , điện ảnh - cung cấp một dòng liên tục của thông tin không cần thiết và mạng giải trí rối bời tác động của cái mà làm cho tâm trí bị tiêu cực, trống rỗng và khô khan. Tất cả những phát triển này, ngây thơ chấp nhận như là sự "tiến bộ", nó đe dọa làm tâm trí của chúng ta bị cùn và cảm xúc tinh thần và làm chói tai chúng ta cho sự đòi hỏi cao hơn của đời sống tu tập. khao khát nghiêm trọng trên con đường giải thoát phải hết sức nhận thức rõ trong những gì chúng cho phép mình được tiếp xúc với. Họ phục vụ rất nhiều nguyện vọng của họ bằng cách bao gồm các nguồn giải trí và thông tin cần thiết trong hàng loai của ngôi lê đôi mách, và chúng ta phải cố gắng để tránh xa chúng.

Chánh Nghiệp (samma kammanta)

Chánh nghiệp nghĩa là hạn chế những hành động bất thiện xảy ra với cơ thể như là phương tiện tự nhiên của họ thể hiện. Các yếu tố then chốt trong con đường tu tập này là yếu tố tinh thần kiêng giữ, nhưng vì kiêng giữ này áp dụng đối với hành động thực hiện thông qua cơ thể, nó được gọi là "Chánh Nghiệp". Đức Phật đề cập đến ba thành phần của Chánh Nghiệp: Không sát sanh, không lấy của không cho, và không tà dâm. Những điều này chúng ta sẽ thảo luận theo thứ tự..

(1) Không sát sanh (panatipata veramani).

có người đoạn tận sát sanh, từ bỏ sát sanh, bỏ trượng, bỏ kiếm, biết tàm quý, có lòng từ, người ấy sống thương xót đến hạnh phúc tất cả chúng sanh, và loài hữu tình. [28]

"Không sát sanh" có một áp dụng rộng hơn so với đơn giản chỉ là cố gắng không giết người khác. Giới luật cấm không giết bất cứ chúng sinh. Một "chúng sinh" (pani, satta) là một cuộc sống có tâm hay ý thức; cho các chủ tâm thực tiễn, điều này có nghĩa là con người, động vật và côn trùng. Thực vật không được coi là chúng sinh; mặc dù chúng có thể hiện một mức độ nhạy cảm, chúng thiếu ý thức đầy đủ, các thuộc tính xác định của một chúng sinh.

"Sát sinh" điều đó là để tránh không được là giết người có chủ ý, cố ý phá hủy cuộc sống của một chúng sinh có tâm và có ý thức. Nguyên tắc là có căn cứ trong việc xem xét rằng tất cả chúng sinh yêu cuộc sống và sợ chết, tất cả mong cầu hạnh phúc và không thích đau khổ. Chủ yếu quyết định của sự phạm lỗi là ý muốn giết, cố ý trong một hành động tước đi một mạng sống. Tự tử cũng thường được coi là sự phạm lỗi, nhưng không chủ yếu giết như ý định phá hủy cuộc sống là không được tính. Sự kiêng giữ có thể được áp dụng cho hai loại nghiệp, chính yếu và thứ yếu. Chính yếu là sự phá hủy cuộc sống thực sự; thứ yếu là cố ý làm hại hoặc tra tấn chúng sanh khác mà không giết chết .

.Trong khi lời giảng của Đức Phật về không làm tổn hại là khá đơn giản và dễ hiểu, những bài chú giải sau đó đưa ra một phân tích chi tiết của nguyên tắc đạo đức. Một luận thuyết từ Thái Lan, được viết bởi một vị Trưởng Lão Thái uyên bác,Ngài so sánh rất nhiều tài liệu thời cổ xưa đặc biệt nghiêng cứu rất tỉ mỉ điều mà chúng ta sẽ tóm tắt ngắn gọn ở đây [29] Bài luận thuyết này chỉ ra rằng việc giết hại một mạng sống có thể có mức độ nặng nhẹ khác nhau của đạo đức kéo theo những hậu quả khác nhau. Ba chủ yếu có thể thay đổi sự thống trị đạo đức nặng nhẹ là đối tượng, động cơ, và các nỗ lực. Liên quan đến các đối tượng với đó là một sự khác biệt trong mức độ nghiêm trọng giữa giết chết một con người và giết chết một con vật, con người thì nghiệp nặng vì con người có ý thức đạo đức phát triển cao hơn và tiềm năng tinh thần lớn hơn loài vật. Giữa loài người, mức độ nghiệp báo phụ thuộc vào phẩm chất của người bị thiệt mạng và mối quan hệ của người đó với kẻ giết người; do đó đoạt mạng sống của một người có phẩm chất tinh thần cao hon hoặc một ân nhân của mình, chẳng hạn như cha mẹ hoặc người thầy, là một hành vi đặc biệt nghiêm trọng.

Động cơ để giết chết cũng ảnh hưởng đến sự nặng nhẹ của nghiệp báo. Hành vi giết người có thể bị thúc đẩy bởi sự tham lam, sân hận, si mê. Trong số ba nguyên nhân, giết chết bởi lòng thù hận là nghiêm trọng nhất, và sự nghiêm trọng tăng lên khi sự giết chết là có chủ tâm. Sức mạnh của sự ráng sức cũng góp phần, các nghiệp bất thiện theo tỷ lệ thuận với lực lượng và sức mạnh của phiền não.

Các phương pháp tích cực đối với việc không sát sanh, như Đức Phật đã chỉ ra, là sự phát triển sự thân ái và lòng từ bi đối với chúng sinh khác. Người Phật tử không sát sanh; là người sống bằng một trái tim nhân ái, muốn tất cả chúng sinh được hạnh phúc. Cam kết không làm tổn hại người khác và quan tâm đến phúc lợi của người khác tiêu biểu cho sự tu tập thiết thực yếu tố thứ hai của con đường tu tập, Chánh Tư Duy, trong các hình thức của phúc lợi và vô hại.

(2) Không lấy vật không cho (adinnadana veramani).

Đoạn tận lấy của không cho, từ bỏ lấy của không cho ; bất cứ vật gì của người khác, hoặc tại thôn làng, hoặc tại rừng núi, không có người ấy, người ấy không lấy với ý niệm trộm cắp..[30]

"Lấy của không cho" có nghĩa là chiếm đoạt các vật dụng hợp pháp của người khác với ý định ăn cắp. Nếu một người lấy cái gì đó mà không có chủ sở hữu, chẳng hạn như đá không có người nhận, gỗ, hoặc thậm chí đá quý lấy được từ trái đất, hành động này không tính là một sự vi phạm mặc dù các đối tượng này đã không được ai cho. Nhưng cũng ngụ ý như một sự vi phạm, mặc dù không quy định rõ ràng, là được nắm giữ từ người khác những gì chính đáng được trao cho họ.

Trong các chú giải đề cập đến một số cách thức mà "lấy của không cho" được ghi nhận. Một số phổ biến nhất có thể được liệt kê::
(1) ăn trộm: lấy vật thuộc quyền sở hữu người khác, chẳng hạn như vào nhà lấy trộm, hoặc móc túi, v.v...;
(2) cướp: lấy vật của người khác bằng cách dùng võ lực hoặc đe dọa;
(3) giật lấy: bất ngờ giật đồ của người khác trước khi họ có phản ứng;
(4) gian lận: lấy đồ của người khác bằng cách giả mạo xác nhận món đồ đó là của mình;;
(5) lừa dối: cân sai hoặc đo đếm sai để lừa khách hàng.[31].

Mức độ nghiệp nặng nhẹ tùy vào hành động được xác định bởi ba yếu tố: giá trị của đồ vật lấy đi; phẩm chất của đồ vật trộm cắp; và trạng thái chủ quan của kẻ trộm. Yếu tố thứ nhất, tội nặng nhẹ tùy thuộc và giá trị của món đồ. Thứ hai, tội nặng nhẹ thay đổi tùy theo phẩm chất đạo đức của cá nhân bị tước đoạt. Thứ ba, hành vi trộm cắp tùy theo sự thúc đẩy bằng tâm tham lam hay sân hận. Hành vi trộm cắp do tâm tham là nguyên nhân phổ biến nhất, tâm sân hận cũng có thể phải chịu trách nhiệm như khi một người đánh cắp một số ít tài vật của người khác vì anh ta tham muốn những tài vật này cho chính mình chứ không phải muốn làm hại người kia Giữa hai, hành vi thúc đẩy bởi lòng thù hận là nghiệp nặng hơn hành vi thúc đẩy bởi tham lam.

Để đối trị cho việc ăn cằp là sự trung thực, trong đó hàm ý tôn trọng tài vật của người khác và cho quyền của họ sử dụng đồ đạc của họ như họ muốn. Một đức tính liên quan là sự mãn nguyện, thỏa mãn với những gì mình có mà không lấy của người để làm sự giàu có cho mình bằng hành động vô lương tâm. Các đức tánh tốt nhất là hào phóng, ban bố sự giàu có và tài sản của chính mình để h ưởng phúc lợi khác.

(3) Không tà dâm (kamesu miccha-cara veramani)

Đoạn tận tà hạnh trong các dục, từ bỏ tà hạnh trong các dục, với hạng nữ nhân có mẹ che chở, có cha che chở, có anh che chở, có chị che chở, có bà con che chở, có pháp che chở, đã có chồng,.[32]

Các mục đích hướng dẫn của giới này, trong quan điểm đạo đức, là để bảo vệ quan hệ hôn nhân từ sự quấy rối bên ngoài và thúc đẩy sự tin tưởng và lòng trung thành trong quan hệ hôn nhân. Từ quan điểm tâm linh nó giúp kiềm chế xu hướng mở rộng về ham muốn tình dục và do đó là một bước theo hướng từ bỏ, điều mà đạt đến viên mãn của nó trong việc ràng buộc các Tỳ Kheo và Ni tuân thủ đời sống không gia đình (đời sống phạm hạnh). Nhưng đối với nguoi cư sĩ giới cấm không tà dâm với một đối tác bất hợp pháp. Phạm giới nặng là liên hệ đến đời sống hôn nhân, nhưng tất cả các sự dính líu tình dục khác có thể coi là hành vi phạm giới thuộc loại nhẹ.

Câu hỏi chính nêu lên những liên quan đến giới ai là người được tính là một đối tác bất hợp pháp. Lời giảng của Đức Phật định nghĩa các đối tác bất hợp pháp tùy quan điểm của loài người, nhưng này các luận thuyết đưa các vấn đề gồm cả hai giới.[33]

Đối với một người đàn ông, ba loại phụ nữ được coi là đối tác bất hợp pháp:

(1) Người phụ nữ đã kết hôn với người đàn ông khác. Điều này bao gồm, bên cạnh một người phụ nữ đã kết hôn với một người đàn ông, người phụ nữ không phải là vợ hợp pháp của ông nhưng nói chung được công nhận là phối ngẫu của mình, người sống với anh ta hoặc được giữ bởi anh ta hoặc là trong một số cách công nhận là đối tác của mình. Tất cả những phụ nữ này là các đối tác bất hợp pháp cho những người đàn ông khác ngoài chồng mình. Loại này cũng sẽ bao gồm một phụ nữ đã đính hôn với người đàn ông khác. Nhưng một bà góa hoặc người phụ nữ đã ly dị không phải là ngoài giới hạn, miễn là người đó không nằm trong lý do khác.

(2) Một người phụ nữ vẫn được bảo hộ. Đây là một cô gái hoặc người phụ nữ là những người dưới sự bảo vệ của các bà mẹ, người cha, người thân, hoặc những người khác được quyền là người giám hộ của người phụ nữ đó. Quy định này cho cả việc bỏ trốn theo hoặc cuộc hôn nhân bí mật trái với mong muốn của người bảo vệ.

(3) Một phụ nữ bị ngăn cấm theo quy ước. Điều này bao gồm người thân nhân gần theo truyền thống của xã hội, nữ tu và phụ nữ khác theo một lời thề độc thân, và những người bị cấm như các đối tác của pháp luật về đất đai.

Từ góc độ của một người phụ nữ, có hai loại người đàn ông được coi là đối tác bất hợp pháp:

(1)Đối với một người phụ nữ đã lập gia đình bất kỳ người đàn ông khác ngoài người chồng . Vì vậy, một người phụ nữ đã lập gia đình vi phạm giới luật nếu cô phá vỡ lời thề trung thành của mình với chồng. Nhưng một bà góa hoặc ly dị thì được tái hôn.

(2) Đối với bất kỳ người phụ nữ nào người đàn ông bị cấm theo quy ước, như người thân và những người tu sĩ có lời thề sống độc thân, là một đối tác bất hợp pháp.

.Bên cạnh đó, bất kỳ trường hợp cưỡng bức, bạo lực hoặc cưỡng chế giao hợp tình dục tạo thành một vi phạm. Nhưng trong trường hợp này các vi phạm chỉ rơi vào người phạm tội, không phải trên người bị cưỡng ép.

Đối với người cư sĩ đức tính tích cực tương ứng với giới không tà dâm là trung thành trong hôn nhân. Vợ chồng nên trung thành và tận tụy với nhau, hài lòng với mối quan hệ, và không nên mạo hiểm một cuộc phá vỡ hôn nhân bằng cách tìm kiếm các đối tác bên ngoài. Tuy nhiên, nguyên tắc đạo đức hạn chế quan hệ tình dục với các thành viên có hôn thú. Nó linh hoạt để cho phép sự khác nhau tùy thuộc vào quy ước xã hội. Mục đích thiết yếu, như đã nói, là để ngăn chặn các mối quan hệ tình dục mà gây tổn thương cho người khác. Khi một người độc lập trưởng thành, mặc dù chưa lập gia đình, tham gia vào một mối quan hệ tình dục qua thỏa thuận, miễn là không cố ý làm hại người khác, không vi phạm các điều khoản cấm.

Với các vị tăng ni xuất gia, bao gồm cả đàn ông và phụ nữ đã thọ tám hay mười giới, có nghĩa vụ tuân thủ đời sống không gia đình. Họ phải kiêng không chỉ tà dâm, mà tất cả những sự dính díu về tình dục, ít nhất là trong khoảng thời gian của lời nguyện. Đời sống thánh thiện ở mức cao nhất nhằm tinh khiết hoàn toàn trong tư tưởng, lời nói và hành động, và điều này đòi hỏi phải từ bỏ sự ham muốn tình dục.

Chánh Mạng (samma ajiva)

Chánh Mạng nghĩa là việc bảo đảm rằng cách kiếm sống của một người phải chân chánh. Đối với người cư sĩ Đức Phật dạy rằng sự giàu có nên đạt được theo tiêu chuẩn nhất định. Người ta có được sự giàu có chỉ nên bằng phương tiện hợp pháp, không trái với pháp luật; người ta có được một cách hòa bình, không ép buộc hoặc dùng bạo lực; nên có được nó một cách trung thực, không phải bằng thủ đoạn gian trá hoặc lừa dối; và có được nó bằng nhiều cách mà không có những tác hại và đau khổ cho người khác. [34]Đức Phật đề cập đến năm loại cụ thể của đời sống mà gây tổn hại cho người khác và do đó phải tránh gồm: kinh doanh vũ khí, không buôn bán chúng sanh (bao gồm cả chăn nuôi giết mổ cũng như buôn bán nô lệ và mại dâm), buôn bán thịt và tàn sát, thuốc độc, và trong các chất say (AN 5: 177). Ngài dạy thêm một số phương tiện không trung thực để đạt được sự giàu có thuộc tà mạng: thói quen lừa dối, phản bội, bói toán, thủ đoạn gian trá, và cho vay nặng lãi (MN 117). Dĩ nhiên là bất cứ nghề nghiệp nào mà phạm vào phạm vi của Chánh Ngữ và Chánh Nghiệp đều là cách sống sai lạc, nhưng các nghề nghiệp khác, chẳng hạn như bán vũ khí hay buôn bán rượu, có thể không vi phạm những yếu tố này nhưng vẫn là sai lạc vì những hậu quả của việc này đối với người khác.

Một luận thuyết của Thái thảo luận về những khía cạnh xác thực của Chánh Mạng ngay dưới ba tiêu đề thích hợp của những hành động hoàn toàn đạo đức, tính đạo đức về người, và các đối tượng liên quan đến đạo đức. [35] "Đạo đức đối với nghiệp" có nghĩa là người lao động phải thực hiện đầy đủ nhiệm vụ của mình siêng năng và tận tâm, không lãng phí thời gian, ghi nhận mình làm việc nhiều giờ hơn so với thời gian họ đã làm, hoặc ăn cắp hàng hóa của công ty. "Đạo đức đối với con người" có nghĩa là sự tôn trọng và xem xét nên được thể hiện với người chủ, nhân viên, đồng nghiệp và khách hàng. Người chủ, ví dụ, nên phân công cho người làm theo khả năng của họ, trả tiền cho họ xứng đáng với công họ làm, khen thưởng họ khi họ xứng đáng được khen thưởng và cho họ những kỳ nghỉ thường xuyên và tiền thưởng. Những bạn đồng nghiệp nên cố gắng hợp tác hơn là cạnh tranh, trong khi các thương gia nên công bằng trong giao dịch với khách hàng. "Đạo đức đối với khách thể" có nghĩa là trong các giao dịch kinh doanh và bán hàng các phẩm vật được bán nên được trình bày trung thực. Không nên quảng cáo lừa đảo, xuyên tạc về chất lượng hay số lượng, hoặc hướng dẫn không trung thực.


[Chương trước][Mục lục][Chương kế]

[^]


-ooOoo-

Dầu trang | Mục lục | 01 | 02 | 03 | 04 | 05 | 06 | 07 | 08 | 09 | 10 | 11 | 12 | 13 | 14

>

[dieuphap.com Mục]